Hôm nay chị Tư nhà hàng xóm sang chơi, mang theo một xấp giấy xét nghiệm nhờ mình tư vấn. Số là cuối năm chị đi khám sức khỏe định kỳ, bác sĩ cho nhiều xét nghiệm và chụp chiếu nhưng đông quá nên chị không tiện hỏi cặn kẽ. Về nhà chị xem lại thấy mình… chẳng hiểu chẳng nhớ được bao nhiêu, đặc biệt là bộ xét nghiệm tầm soát viêm gan “Gì mà B, C, C, B rồi lại kháng thể, nguyên nguyên gì đó, chị không nhớ hết bác sĩ ơi!”. Thế là mình hướng dẫn chị đọc kết quả trong 10 phút. Sau khi “tốt nghiệp” chị vui vẻ, yên tâm hẳn. Đây là bí quyết đọc các xét nghiệm tầm soát viêm gan cơ bản nhất mà ai cũng có thể áp dụng tại nhà.
1. Các xét nghiệm viêm gan thường gặp
Để chẩn đoán viêm gan, bác sĩ thường chỉ định một loạt các xét nghiệm máu. Các xét nghiệm đó để kiểm tra tình trạng hoạt động của gan gồm: bilirubin, albumin, INR (TQ – một loại chức năng đông máu) và các chỉ số men gan AST, ALT, GGT, LDH (Lactic dehydrogenase).
Các xét nghiệm chẩn đoán gan khác có thể được thực hiện nếu nghi ngờ một bệnh cụ thể, thường nhất là Alpha-fetoprotein (AFP) – đây là một protein trong máu được tạo ra bởi mô thai nhi hoặc khối u. Vì thế người ta vận dụng nó để dự đoán nguy cơ ung thư gan nguyên phát (ung thư biểu mô tế bào gan). Đối với những người đang điều trị u gan, AFP cũng được dùng để đánh giá hiệu quả quá trình điều trị.
Đáng quan tâm nhất và không thể thiếu khi khám sức khỏe là các xét nghiệm tầm soát viêm gan siêu vi.
Tầm soát viêm gan A:
- IgM HAV: Kháng thể IgM được hệ thống miễn dịch tạo ra khi cơ thể nhiễm HAV (viêm gan vi-rút A) lần đầu, thường bắt đầu xuất hiện trong máu của người bệnh từ 5 – 10 ngày trước khi xuất hiện triệu chứng và có thể tồn tại trong máu khoảng 6 tháng sau khi nhiễm.
- IgG HAV: Kháng thể này giúp bác sĩ xem lại bạn đã từng nhiễm viêm gan A trước đó hay có khả năng miễn dịch với bệnh hay chưa.
Tầm soát viêm gan B:
- HBsAg: Đây là loại kháng nguyên nằm trên bề mặt vi-rút viêm gan B báo hiệu tình trạng nhiễm trùng hiện tại. Sự hiện diện của nó chỉ ra tình trạng nhiễm HBV – vi-rút viêm gan B – cấp tính hoặc mạn tính.
- Anti-HBs: Kháng thể này tương ứng với kháng nguyên bề mặt vi-rút viêm gan B – may thay, nó là dấu hiệu của khả năng miễn dịch. Sự hiện diện của nó cho thấy phản ứng bảo vệ cơ thể đối với HBV thông qua việc tiêm ngừa, kháng thể từ mẹ truyền qua nhau thai hay qua sữa mẹ,…
- Anti-HBc (total): Đây là kháng thể do cơ thể sản xuất, ghi lại lịch sử đã hoặc đang tiếp xúc – nhiễm vi-rút viêm gan B. Một điều chắc chắn rằng kháng thể này không phải là khả năng miễn dịch do vắc-xin. Tuy nhiên, nó có thể được sử dụng trong xét nghiệm trước khi tiêm vắc-xin để xác định tình trạng phơi nhiễm trước đó của bạn với HBV. Nếu gọi anti-HBc total là mẹ thì sẽ có hai người con: IgM anti-HBc và IgG anti-HBc.
- IgM anti-HBc: Chúng ta tạm gọi đây là “kháng thể mới” vì nếu IgM dương tính phản ánh tình trạng nhiễm HBV gần đây (trong vòng 6 tháng qua) – cho thấy tình trạng nhiễm cấp tính.
- HBV-DNA: Axit deoxyribonucleic của HBV là thước đo tải lượng vi-rút và phản ánh sự nhân lên của vi-rút.

Tầm soát viêm gan C:
- Anti-HCV: tương tự như trong viêm gan B, kháng thể này gợi ý tình trạng nhiễm bệnh của cơ thể. Ở những bệnh nhân tự khỏi, anti-HCV có thể tồn tại suốt đời, giảm nhẹ hoặc dần biến mất sau vài năm. Anti-HCV tồn tại vô thời hạn ở những bệnh nhân mắc viêm gan C mạn tính. Tuy nhiên, kháng thể này có thể không phát hiện được ở những bệnh nhân chạy thận nhân tạo hoặc trong trường hợp suy giảm miễn dịch nặng.
- HCV RNA: được khuyến nghị để chẩn đoán tình trạng nhiễm viêm gan C hiện tại ở những người có nguy cơ nhiễm bệnh trong vòng 6 tháng qua. HCV RNA có thể phát hiện được khoảng 1 – 2 tuần sau khi nhiễm bệnh.
2. Khi chưa bị viêm gan, bạn cần làm XN gì để tầm soát?
Khi bạn muốn tầm soát bệnh viêm gan, một số xét nghiệm về kháng thể và kháng nguyên bề mặt bạn cần làm như:
Viêm gan A:
- IgM anti-HAV để phát hiện tình trạng nhiễm vi-rút viêm gan A cấp hoặc gần đây.
- IgM anti-HAV phát hiện kháng thể cho thấy khả năng miễn dịch của cơ thể.
Viêm gan B:
- HbsAg giúp phát hiện tình trạng nhiễm viêm gan B đang hoạt động.
- Anti-HBs giúp xác định khả năng miễn dịch của cơ thể.
- Anti-HBc giúp kiểm tra tình trạng nhiễm vi rút trước đây.
Viêm gan C:
- Kháng thể anti-HCV cho biết tình trạng tiếp xúc với vi-rút trước đây của người bệnh.
- Xét nghiệm HCV RNA giúp xác nhận tình trạng nhiễm vi-rút đang hoạt động trong máu (thực hiện khi anti-HCV dương tính).

3. XN nào cần làm trước khi chích ngừa
Tất cả người lớn từ 18 tuổi trở lên đều được khuyến cáo nên sàng lọc ít nhất một lần trong đời bằng các xét nghiệm (HBsAg, anti-HBs và anti-HBc total), bất kể tình trạng tiêm chủng. Việc thực hiện các xét nghiệm này sẽ giúp họ sàng lọc bệnh, tránh các trường hợp nhiễm vi-rút nhưng bản thân người bệnh không biết cũng như hạn chế sự lây truyền viêm gan B.
Trước khi chỉ định tiêm vắc-xin ngừa viêm gan B, bác sĩ thường cho người bệnh thực hiện các xét nghiệm, ý nghĩa của các xét nghiệm được tóm tắt như sau:
- HBsAg (-), antiHBs(+): Bạn đã bị nhiễm viêm gan B nhưng đã khỏi bệnh và cơ thể đã tạo kháng thể bảo vệ.
- HBsAg (-), antiHBs(-): Bạn chưa nhiễm viêm gan B, chưa có kháng thể chống lại viêm gan B và bạn cần tiêm ngừa.
- HBsAg (+), antiHBs(-): Cơ thể đang bị nhiễm mà chưa được bảo vệ cũng không cần phải chủng ngừa, tùy theo tình trạng cụ thể của từng đối tượng mà các nhân viên y tế sẽ tư vấn cho bạn hướng điều trị và cách theo dõi tiếp theo.

Dr Châu Chấu
Nguồn tham khảo:
- Centers for Disease Control and Prevention. (2024,February 29). Hepatitis A Surveillance Guidance
- Centers for Disease Control and Prevention. (2023, December 19). Clinical Screening and Diagnosis for Hepatitis C
- Hepatitis B Online. (Last Updated: March 13th, 2023). HBV Screening, Testing, and Diagnosis




